Năm Cảnh Hưng nguyên niên 1740 khi mới lên lập làng Thanh Tuyền Thượng, con cháu Họ Ngô đã khai phá khu đất gần 5 000 m2 (hiện nay số 2/2 An Thường Công Chúa) để làm nhà thờ cho Dòng Họ, nhưng phải đến cuối năm Cảnh Hưng thứ 37 (1776) mới xây dựng được nhà rường ba gian hai chái để phụng thờ ngài Thủy Tổ Khai canh và chư vị Tiên tổ .
Đến năm 1949 với chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, con cháu phải tháo gỡ nhà thờ, đồ thờ cúng phải gửi tại nhà ông Ngô Viết Châu (Tùng Châu).
Sau khi hòa bình lập lại, năm 1956 con cháu dựng lại nhà rường để phụng thờ.
Đến những năm 1980 do gỗ bị mối phá hoại, nhà thờ xuống cấp trầm trọng. Dù đang ở giai đoạn xã hội còn khó khăn, Ban Quản Tộc lúc bấy giờ đứng đầu là Tộc trưởng Ngô Viết Thái (1983-1986) phải vận động con cháu tự nguyện đóng góp để đại trùng tu. Các Ban phụng sự tiếp nối xây dựng từng bước để hoàn chỉnh như ngày hôm nay.
Nhà thờ họ Ngô thờ ngài Thủy Tổ Khai Canh Ngô Lực tự Minh Triết.
Ngài sinh khoảng năm 1539
Tạ thế ngày 12.5.năm Đinh Sửu Niên hiệu Gia Thái thứ 5 (1577). Húy kỵ ngài vào ngày 11, 12.5 ÂL hàng năm.
Cha là Ngài Ngô Thù - Bổn Thổ Thành hoàng làng Phù Bài. Mẹ là bà Triệu Thị Mai.
Dòng dõi của Ngài Ngô Thù vốn gốc ở Bột Hải quận (nay là tỉnh Sơn Đông ) dưới triều nhà Minh (1368-1644 ). Tổ tiên của Ngài Ngô Thù là một đạo sĩ Lão giáo thiền sư có tài kỳ môn độn giáp, pháp thuật thần thông. Ngài Tổ làm quan ở Đạo Kỳ ty triều nhà Minh, phụng mệnh làm Khâm sai giáo sĩ sang đất Việt để truyền Đạo giáo.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi (1418-1427) Lê Lợi đã thế đức hiếu sinh cấp gạo thuyền cho quân Minh rút về nước (23.12.1427). Gia đình ngài Ngô Thù chỉ là giáo sĩ sang truyền đạo vì thế đã quyết định ở lại cư trú tại xứ Đường Lâm, quê hương của Ngô Quyền.
Sống ở Đường Lâm (nay thuộc Ba Vì, Hà Tây), qua một thời gian dài, đến đầu thế kỷ XVI, gia đình ngài Ngô Thù đã trở thành người Việt chính thống.Vì thế, khi ngài Ngô Thù sinh (13.4 năm Nhâm Tuất- 1502) Gia phả họ Ngô Lang Xá ghi:
“Nguyên hệ xuất Bột Hải quận, tính Ngô, Đường Lâm nhân, thuộc Bắc Ninh tỉnh”
Được tiếp thu sở học của ông cha, ngài Ngô Thù đã trở thành một đạo sĩ Lão giáo thiền sư tài giỏi. Ngài tham gia quân đội và trở thành một võ tướng chỉ huy đội quân tinh nhuệ dưới tướng Nguyễn Kim.
Năm 1527 Mạc Đăng Dung truất phế vua Lê, thành lập nhà Mạc. Nguyễn Kim giương cao lá cờ Phù Lê diệt Mạc, lập Nam triều ở Thanh Hóa. Gia đình ngài Ngô Thù chuyển về cư trú ở Thanh Hóa.
Gia phả họ Ngô Lang Xá : “Lê Trang Tông hữu niên giám, tỵ Mạc chi loạn, cư Thanh Hóa”
Sau năm 1527 khi ở Thanh Hóa Ngài Ngô Thù đã có hai phu nhân : Đệ nhất phu nhân: Bà Lê Thị Thị sinh hạ một ái nữ. Đệ nhị phu nhân: Bà Triệu Thị Mai hạ sanh được tam lang. Căn cứ vào năm sinh của ngài Ngô Điêu 1542 thì các con của ngài Ngô Thù đều sinh ra ở Thanh Hóa :
Bà chị đầu Ngô Thị Cừ sinh khoảng 1530. (Sau này kết hôn với ngài Lê Hiền họ Lê “Bà”).
Anh trai đầu Ngô Tôi tự Dao sinh 1536
Ngô Lực tự Minh Triết sinh 1539.
Ngô Điêu là con trai út sinh 1542.
Đến giữa thế kỷ XVI dưới thời Hậu Lê, nội bộ triều đình từ khi Nguyễn Kim chết đã nãy sinh mâu thuẫn gay gắt giữa hai dòng họ đang tôn thờ vua Lê. Trước tình hình đó, được sự tư vấn của Nguyễn Bỉnh Khiêm :
“Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân “.
(Hoành sơn một dãy, dung thân muôn đời )
Nguyễn Hoàng đã vận động xin vào trấn thủ đất Thuận Hóa để tránh âm mưu sát hại của Trịnh Kiểm và lo xây dựng lực lượng lâu dài về sau.
Tháng 10 năm 1558 Nguyễn Hoàng nhận cờ Tiết chế vào trấn thủ Thuận Hóa lúc 34 tuổi. Nguyễn Hoàng vào Thuận Hóa đã đem theo những người thân tín tài giỏi, là những thành phần nòng cốt của mình, trong đó có gia đình ngài võ tướng tâm phúc Ngô Thù.
Năm 1558 lúc theo cha vào Thuận Hóa, ngài Ngô Lực ( Ngô Minh Triết) khoảng 20 tuổi.
Tộc phả họ Ngô Lang Xá ghi: “Toàn Gia đình ngài Bổn Thổ theo phò chúa Nguyễn Hoàng vào đất Thuận Hóa thì lúc đó ngài Ngô Viết Điêu đã 17 tuổi”
Là con của một võ tướng thân tín đang giữ đồn An Nông, một cứ điểm yết hầu của thủ phủ Thuận Hóa, ngài Ngô Lực đã là người trong đội quân Cẩm y vệ – đội quân cấm vệ có trách nhiệm bảo vệ phủ Chúa (Chánh dinh). Ngài Ngô Lực theo Nguyễn Hoàng Chống Mạc, lập dược nhiều chiến công. Ngài được đặc cách tấn phong: Thượng tướng Cẩm Y Vệ Chánh dinh Chưởng cơ (tướng chỉ huy quân Cấm vệ ở phủ Chúa), được mang tước Lực Tài Hầu.
Được cha giao trách nhiệm chiêu mộ dân binh khai hoang lập làng, ngài Ngô Lực đã cùng 11 vị khai canh của các Họ: Lê Diên, Lê Trọng, Lê Viết, Lê Đô, Nguyễn Diên, Nguyễn Thanh, Nguyễn Viết, Phùng , Phan, Đặng, Trần, khai phá lập làng Ôn Tuyền thuộc huyện Tư Vinh. Sau đó đổi tên thành làng Thanh Tuyền. Đến năm Cảnh Hưng nguyên niên ( Canh thân 1740 ) một bộ phận con cháu các Họ tiếp tục khai hoang vùng đất cao giáp độn Sầm phát triển thành Thanh Tuyền thượng.
Do có công phò chúa Nguyễn và trung hưng nhà Lê, có công chiêu mộ dân binh lập làng, ngài Ngô Lực được các triều nhà Nguyễn từ vua Minh Mạng đến Khải Định đều có sắc phong :
“Khai canh Đặc Tấn Phụ Quốc,Thượng Tướng Quân Cẩm Y Vệ Chánh Dinh Chưởng Cơ, Lực Tài Hầu Ngô Quý công.Trước phong Dực Bảo Trung Hưng Linh Phò Tôn Thần. Gia tặng Đoan Túc Tôn Thần”
Về gia thất, ngài Minh Triết có một phu nhân, sinh tam lang và hai ái nữ: Vợ là Lực phu nhân quý nương, lấy tước hiệu của chồng .
Các con :
Đệ nhất lang Ngô Bàng. Đệ nhị lang Ngô Khê. Đệ tam lang Ngô Bạc
Hai ái nữ: Đệ nhất Ngô quý nương. Đệ nhị Ngô quý nương.
Đến nay cháu, chắc của ngài Ngô Lực đã phát triển đến thế thứ 20,21. Là một trong những Họ có con cháu nhiều nhất làng.
Như vậy, qua hơn 250 năm phát triển (1740- 2024), Từ đường họ Ngô luôn được quan tâm xây dựng. Mỗi Ban Phụng sự trong nhiệm kỳ của mình, ngoài công việc thờ phụng Tổ tiên chăm lo các ngày Giỗ chạp, đều tâm huyết xây dựng một công trình để nhà thờ Họ ngày càng khang trang. Chính vì thế đến nay Từ đường Họ Ngô trở thành một tổng thể công trình kiến trúc đẹp, hài hòa. Ngoài vẻ đẹp thẩm mỹ, nhà thờ họ Ngô còn mang vẻ đẹp văn hóa: Từ cổng vào điện thờ đều có những văn khắc Hán Nôm.
Những câu văn đối ở nhà thờ họ Ngô chủ yếu đề cao truyền thống "Uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ quả trồng cây", luôn luôn biết ơn những bậc tiên tổ đã có công lao mở mang khai hoá cho dòng họ và quê hương. Mỗi câu mỗi chữ đều là tấm lòng biết ơn của bao thế hệ con cháu trước ơn nghĩa sinh thành và dựng xây sự nghiệp của Tổ tiên: Thể hiện trên bốn trụ biểu trước nhà thờ:
功德永遷百世本支香水遠
繼承無斁千龝花衮象山高
Công đức vĩnh thiên bách thế bản chi Hương Thủy viễn
Kế thừa vô dịch thiên thu hoa cổn Tượng Sơn cao
Dịch nghĩa: Công đức trăm đời, nguồn ngọn sông Hương chảy xa
Kế thừa ngàn năm, hoa gấm núi Voi cao ngất
岑嶺德基門戶詩禮憑舊蔭
清泉人脈亭皆芝玉惹莘香
Sầm Lĩnh đức cơ, môn hộ thi lễ bằng cựu ấm,
Thanh Tuyền nhân mạch, đình giai chi ngọc nhạ tân hương.
(Độn Sầm xây nền đức, gia tộc dòng dõi bởi nhờ ơn đời trước,
Thanh Tuyền tạo nguồn nhân, cả nhà hưng thịnh vì sức gắng lớp sau)
Đặc biệt tại nhà thờ họ Ngô còn ghi lại đôi câu đối để nhắc nhỡ muôn đời con cháu mai sau về nguồn cội của Họ mình :
始祖功高魚峒岑山連五岳
開耕德重符牌清水舍三廊
“ Thủy Tổ công cao, Ngư Động, Sầm Sơn liên Ngũ Nhạc.
Khai canh đức trọng, Phù Bài, Thanh Thủy, Xá tam lang.”
Dịch:
Thủy Tổ công cao, từ Động Ngư (Lang Xá) , Độn Sầm (Thanh Thủy) liền với núi Ngũ Nhạc (ở Phù Bài).
Khai canh đức trọng, Phù Bài,Thanh Thủy, Lang Xá là ba anh em ruột.
Trước lăng mộ Ngài Khai canh có ghi câu đối nhắc nhở tình huyết thống của ba anh em ruột và hai làng Thanh Thủy Chánh, Thanh Thủy Thượng:
萬古留傳三兄弟
千秋繼世二鄉村
Vạn cổ lưu truyền tam huynh đệ ;
Thiên thu kế thế nhị hương thôn.
Muôn thuở Lưu truyền ba huynh đệ;
Ngàn năm nối đời hai làng quê.
Vâng lời Tổ tiên, con cháu họ Ngô cũng đã hình thành được truyền thống hiếu học: Dù giàu có hay nghèo khó, mỗi gia đình đều quan tâm đầu tư cho con em mình được ăn học. Con cháu họ Ngô Thanh Thủy cũng cảm nhận được sự hy sinh to lớn của cha mẹ, với hoàn cảnh thiếu thốn, vừa học vừa lao động giúp đỡ gia đình, nhưng nhiều con cháu họ Ngô đã học tập đạt kết quả tốt: Đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc tế, quốc gia, đạt nhiều thành tích trong các kỳ tuyển sinh vào Đại học.
Tự hào là con cháu họ Ngô, mỗi chúng ta tỏ lòng biết công ơn Tổ tiên, hiếu kính với dòng tộc, luôn giữ gìn và phát huy những truyền thống tốt đẹp của Họ để xứng đáng là con cháu của những vị võ tướng khai canh “Giúp nước phò dân” rạng ngời trong sử sách.
NGÔ VĂN PHỐ.

0 Comments:
Post a Comment